
Preserved work
Ánh sáng trên biển
Nguyễn Dương Côn







Draft OCR
This transcription is machine-generated and needs human correction, especially for Vietnamese diacritics and column order.
Page 1
NGUYỄN DƯƠNG CÔN ÁNH SÁNG TRÊN BIỂN Bút ký TÔI cần tìm hiểu về người Thái Thượng đi biển, vì gần đây họ nổi tiếng là đánh cá giỏi. Xã Thái Thượng xưa là một cồn cát lớn cao hơn mặt biển đến gần ba mét. Đồng đất cát cao lại nhiễm mặn nặng nên thiếu nước canh tác triền miên. Vì thế, người Thái Thượng cấy lúa, trồng màu rất vất vả. Người Thái Thượng có 4 ki lô mét bờ biển; nhưng đánh cá biển không phải là nghề truyền thống lâu đời của họ. Trước đây họ chủ yếu sống nhờ đồng ruộng, bờ bãi. Có số ít người và thuyền lưới bắt tôm, cá trong vùng lộng; nhưng khi về làng họ lại cấy cày. Các cụ già ở Thái Thượng kể rằng: Vào khoảng những năm 1948 đến 1952 đang kháng chiến chống Pháp, có một nhóm người đánh cá biển từ một vùng rất xa đã đổ bộ lên bờ bãi Thái Thượng. Họ có thuyền lớn và những tấm lưới rộng. Vợ chồng, con cái họ đều sống trên thuyền và theo họ đi biển. Họ đến đây là để tránh giặc. Người Thái Thượng giàu lòng nhân ái, thương người, đã cưu mang che chở họ. Để đền ơn, họ đã rủ một số người Thái Thượng ra khơi dạy cho nghề đánh cá. Dần dần những người Thái Thượng ấy biết nghề đánh cá bằng giả đôi. Từ một số người học được nghề ngày đó, tiến tới ngày nay có cả một hợp tác xã đánh cá là quá trình có nhiều vấp váp. Thế mà bây giờ người Thái Thượng đã vững tay chèo lái vượt qua và trở thành nơi làm ăn giỏi. Tôi nhớ năm 1972, khi giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, hợp tác xã đánh cá của người Thái Thượng được thành lập với cái tên của biển: Đông Hải. Nó được hình thành từ một đội đánh cá có 50 xã viên thuộc hợp tác xã nông nghiệp Thái Thượng. Có thể hình dung người lao động Thái Thượng trẻ khỏe hiền lành, gan góc, một tay nắm cái cuốc bập sâu xuống ruộng, một tay cầm cái neo ném ra biển cả và trên vai thì đeo súng sẵn sàng đánh trả máy bay giặc Mỹ. Ngày ấy Đông Hải có gần 100 lao động với 6 con tàu từ 22 đến 33 mã lực. Nghề chủ yếu là giả đôi. Ở mỗi đội đánh cá, họ tổ chức phân công khá chi tiết, chặt chẽ. Phần lớn xã viên vừa làm vừa luyện tay nghề. Họ dày dạn với sóng gió và tay nghề thêm vững, sản lượng cá mỗi năm đã được từ một đến hai trăm tấn. Từ 1974 đến 1976, Đông Hải làm ăn vào độ sung sức, lại được Nhà nước hỗ trợ, mua sắm thêm thuyền lưới, thu nạp thêm lao động. Từ năm 1976, Đông Hải bắt đầu gặp những khó khăn lớn, vật tư, nhiên liệu thiếu nghiêm trọng, xã viên chán nản vì làm nhiều mà thu nhập ít. Sản phẩm không bán đủ mức cho Nhà nước. Xã viên bán cá chui hoặc chia cá trên biển với nhau. Sản lượng cá thực thu cũng ít. Nợ Ngân hàng Nhà nước tới
Page 2
hơn hai triệu đồng vào năm 1979. Hợp tác xã lâm vào nguy cơ tan vỡ. Xã viên bỏ thuyền lên bờ bơ vơ quanh bãi kiếm con cua con vọp, có người đi buôn, nhiều người quay về với ruộng lúa. Thuyền nằm trên bãi, lưới xếp trong kho chờ ngày... xử lý. Vào cuối mùa hè năm 1979, tôi đến thăm một số hợp tác xã đánh cá ở vùng Thái Thụy. Hai ông chủ nhiệm lần lượt đón tiếp tôi với vẻ nhăn nhó, mệt mỏi. Hợp tác xã của họ ngừng đi biển, họ lại chẳng có ruộng vườn, nghề phụ gì khác. Tiền vốn của tập thể phải dốc ra đong gạo cho xã viên. Tài sản của hợp tác xã khánh kiệt. Họ cũng gặp khó khăn như Đồng Hải. Rời hai nơi đó, tôi đến Thái Thượng. Đêm ấy, tôi ở nhà chủ tịch Doãn. Tôi bảo anh: «Anh ạ, chúng tôi vừa qua chỗ ông N, ông T, họ «ốm liệt» cả rồi. Nghề cá biển các ông đến «ào chung mất». Anh Doãn không giấu nổi vẻ lo âu:«Đồng Hải của chúng tôi cũng đang sống dở, chết dở. Có điều còn khá hơn so với chỗ ông N, ông T là nghề biển chúng tôi còn dựa vào cái thềm nông nghiệp. Mấy ông kia thì không còn chỗ dựa» Anh Doãn thở dài rồi phàn nàn về cái cách quản lý nghề cá cũ không còn phù hợp. Cấp trên giao cho hợp tác xã làm nghĩa vụ hàng trăm tấn cá nhưng dầu chạy máy và lưới không đáp ứng đủ. Giá mua cá quá rẻ mà giá thị trường quá cao. Xã viên làm nghề trên biển muốn tuồn cá ra ngoài để được nhiều tiền, cán bộ khổ công cách ngăn chặn. Đã có lúc anh em bí quá phải làm liều, cố gắng bán đủ cá theo mức giao cho Nhà nước, còn lại bán chui lấy tiền mua dầu chui.Không làm như vậy thì chỉ còn cách neo thuyền ở bến. Nhưng... sau thấy làm như thế cũng không được. Phải tìm một cách quản lý khác mà tìm chưa ra... Đêm hôm sau, tôi nghỉ lại ở nhà anh Nhượng, phó chủ nhiệm Đồng Hải. Anh Nhượng bảo: «Hợp tác xã có nguy cơ giải tán nên cán bộ bận mãi hơn những ngày đi biển. Phải họp hành, bàn cãi nhiều. Có hai ý kiến: Cố đi biển nữa hay không? Đi biển để gỡ nợ hay là vào cuốc ruộng để gỡ nợ? Có người nói với giọng bi quan và cay đắng «Biển bạc nhưng chẳng dễ gì xuống mà hót được bạc. Làm ăn kém thì lại đổ bạc ra biển! Chúng ta chỉ còn cách bán hết thuyền lưới mà trả nợ cho các ông Ngân hàng!...» Anh Nhượng là một cán bộ nhiều tuổi, nói năng cân nhắc, nhưng anh không giấu giếm cái luồng tư tưởng bi quan chán nản của một số cán bộ Đồng Hải. Anh rất băn khoăn: «Chúng tôi sống bằng nghề đánh cá, mà hợp tác xã có nguy cơ tan vỡ. Chúng tôi chưa biết gỡ rối bằng cách nào? Chuyến đi công tác gặp toàn những chuyện không vui đã để trong tôi một ấn tượng nặng nề. Bầu trời và biển cả trong những ngày yên tĩnh tôi nhìn rất đẹp. Nhưng với người xã viên Đồng Hải thì đang là một nỗi băn khoăn. Đồng Hải ngày ấy là thế, nhưng chỉ sau hơn 4 năm, tôi được biết: họ nợ Nhà nước hai triệu đồng đã trả xong; bán cá cho Nhà nước vượt mức; mỗi lao động một năm đi biển được chia thêm ít nhất là 40 nghìn đồng, nhiều nhất trên 50 nghìn đồng... Tôi trở lại Đồng Hải vào một ngày cuối tháng giêng năm nay. Anh Nhượng vui lắm. Những nếp nhăn trên bộ trán đầy lo âu của anh ngày nọ như đã giãn ra! Trò chuyện với anh một lúc, tôi được biết anh sắp xuống thăm đội đánh cá số hai đang ở vùng biển Bắc, tôi liền đi theo. Sau khi tạt vào Hải Phòng mua máy dò cá, anh Nhượng đưa tôi đi Đồ Sơn. 80
Page 3
Chúng tôi gặp đội sổ lại đang neo tàu, lên bờ mua sắm mấy thứ cho bếp núc để chập tối ra khơi. Mọi người trên tàu đều vui mừng vì có khách. Tàu cùi Đông Hải là con thuyền lớn có lắp máy chạy dầu, 33 mã lực, rộng trên bốn mét, dài hơn mười tám mét. Đội có hai con tàu như thế và tám con thuyền nhỏ. Xã viên có 16 người. Có năm người tầm vóc cao lớn. Còn lại là những người tầm vóc trung bình. Tất cả đều béo khỏe rắn chắc. Da người nào cũng đen nâu và bóng loáng. Tóc họ đều cắt ngắn. Họ nói rất to nhưng nói ít. Số đông trong bọn họ còn trẻ. Giao du thành phố nhiều nhưng họ vẫn giữ nguyên giọng nói nặng nề và cách nói mộc mạc của người vùng biển Thái Thượng. Mọi thứ trên tàu được họ xếp đặt gọn gàng khiến tôi ngạc nhiên. Đội trưởng, còn gọi « vàng trưởng » là anh Vượng. Vượng 28 tuổi, béo khỏe vào loại nhất của vàng. Vàng phó là ông Cang, 52 tuổi, người cao gầy, đôi mắt tinh sáng, mái tóc thưa đốm bạc. Để tỏ lòng mến khách, mọi người ngồi lại trong khoang tàu đủ để uống một hai chén trà, hút một điếu thuốc lào. Họ im lặng ngắm «anh nhà báo » hoặc hỏi han vài câu ngắn rồi lại tiếp tục công việc của họ. Mấy người nhiều tuổi thì hỏi anh Nhượng về công việc ở nhà. Họ đều tỏ vẻ lo lắng vì trời rét kéo dài. Mạ chết, thiếu thóc giống, không biết rồi mùa màng sẽ ra sao? Tôi hiểu thêm về những người xã viên này, họ ở trên biển hằng tháng mà vẫn lo tưởng về cây lúa ở đồng nhà. Tôi đang ngả người bên đống chăn nghỉ ngơi, thì anh Vượng khẽ kéo tay tôi: — Mời anh đi xem thao diễn một món ăn biển! Tôi và anh Nhượng theo Vượng sang con tàu bên cạnh. Trên bếp lò đặt nồi nước sôi sùng sục. Tuyên và Quân đang thái những con tôm hùm to bằng cổ tay. Những con tôm tươi rói, khi thái ra những thớ thịt còn co cựa. Thái xong, Quân bê rổ thịt tôm đổ vào nồi nước sôi sục. Thịt tôm màu trắng chuyển nhanh sang màu son hồng. Tuyên và Quân hối hả lôi quai khiêng nồi tôm vào trong khoang. Trong khoang đã bày hơn hai chục cái bát tô đựng những nhát mực tươi trắng ngà thái khéo léo. Bốn người nhanh tay múc tôm trong nồi đổ phủ lên những nhát mực tươi cho đầy bát. Anh Vượng mời mọi người: «Nào, mời các anh! Mau lên cho nó nóng. Có nóng mới đúng là nó!». Vừa chờ anh Vượng rót rượu, tôi vừa dùng đũa đảo bát canh kỳ lạ lên xem sao. Những miếng mực trắng trộn lẫn những miếng tôm son hồng. Khói bốc lên mùi thơm thơm ngầy ngậy. Tôi không thấy một chút gia vị nào trong mâm, chỉ có rượu. Thế là bữa tiệc bắt đầu. Vị ngọt mát của hải sản như ngấm vào từng thớ lưỡi, khi tôi nhấp một thìa canh. Thịt tôm hùm và thịt mực tươi tái, những thứ lộc nước chỉ những người lao động trên biển cả mới có quyền hưởng. Mọi người chăm chú ăn, chả ai nói với ai, tất cả đều hưng phấn, sảng khoái. Lúc đầu, tôi tưởng cái của tươi tái ấy chỉ ăn được vài thìa. Nhưng không phải thế... Ăn xong, anh Nhượng rủ tôi sang tàu bên uống nước. Anh hỏi tôi: — Anh đã ăn gỏi cua chưa? Thế gỏi cá thu, cá chim.., chưa à? Tiết canh cua sao? Canh sò huyết sao? Các loại cá thu, nụ, dé cùng đều làm tái được đấy !... Tôi lắc đầu rồi hỏi anh Vượng: — Sao các tướng đi biển sẵn tiền thế mà chả thấy vị nào hút thuốc lá. Rượu cũng không uống nhiều?
Page 4
Vượng đáp: – Nói thật với ông anh, chúng tôi cũng có nếm qua cho biết thôi. Ăn chơi thì chẳng khó. Nhưng phải giữ gìn kẻo nó hỏng người. Ở hợp tác xã này, anh nào càn quấy, chơi bời thì chúng tôi mời về với bà xã! Câu nói của người đội trưởng trẻ tuổi cho tôi thấy một khía cạnh mới của công tác quản lý lao động ở đây. Tôi để ý tìm hiểu thêm. Thì ra mấy năm nay ở Đồng Hải đã bỏ cái kiểu quản lý cũ. Cái kiểu quản lý khiến cho xã viên ỷ lại cán bộ, cán bộ ỷ lại cấp trên, hợp tác xã ỷ lại Nhà nước... Còn bây giờ, một kiểu quản lý mới đã hình thành. Đêm rét buốt là ở mênh mông mặt biển. Còn tôi ấm áp với ngọn đèn bão đặt ở góc khoang. Tôi lắng nghe trên sàn tàu có những tiếng động. Những người đánh cá biển đang làm việc chuẩn bị cho một mẻ lưới đêm. Tôi trở mình, khiến anh Nhượng nhận ra tôi không ngủ: – Sắp vào trận đánh rồi đấy! Chúng ta dậy thôi! Xa tít phía trước, chúng tôi đã thấy những vùng sáng lấp lánh soi rõ một khoảng mặt biển. Đấy là những tổ đèn bẫy cá. Biển trở nên huyền bí như có những vì sao lớn của trời sa xuống. « Vào hải lưu rồi đấy!»–anh Nhượng bảo. Chúng tôi ra phía đầu lầu. Con tàu đang ngược dòng nước xiết. Trong khoang có tiếng gọi của anh Xúy: « Ông Cang ơi! Một vùng khá đặc đấy!» Tôi chui vào khoang đặt màn ảnh máy dò cá, thấy nhấp nhoáng những đường vạch nhỏ và những con số hiện tắt. Bác Cang thong thả đáp lại Xúy: « Cứ bỏ qua!» Anh Nhượng rỉ tai tôi: « Dưới tàu có đàn cá ớt khá đặc đấy!» Tôi không hiểu sao ông Cang lại bỏ qua vùng cá này. Ông ra phía đầu lầu. Tiếng ông gọi át tiếng máy sang phía con tàu đang chạy song song bên cạnh: – Vượng ơi! Một điểm rồi nhá! Có tiếng anh Vượng: – Bỏ qua ạ! Khoảng mười phút trôi đi. Anh Xúy lại reo lên: – Lại một đàn nữa! Ông Cang cười: – Cứ đi! Bỏ qua! Chạy chếch ba mươi độ sang trái. Sáu phút nữa trôi qua. Anh Nhượng ghé sát tai tôi: « Ông ấy còn đoán hố cá – nơi cá cư trú đông đặc!» Liền sau đó, Xúy nói như quát: « Một... nửa đấy!» Tiếng ông Cang: « Rồi! Quay chín mươi độ về trái!» Tàu vượt chếch ngang dòng chảy. Nước hắt ngang thân tàu, hắt cả vào cửa khoang tàu. Mười phút trôi qua. Tiếng anh Vượng vọng từ tàu bên: « Dừ... ửng!». Tiếng máy tắt. Tiếp đó là tiếng lịch, bịch những bước chân và những tiếng va của gỗ lịch kịch. « Neo... Neo đấy!»– anh Nhượng nói. Tôi nghĩ ông Cang và anh Vượng, không hiểu họ có tín hiệu gì và nhanh chóng ăn ý nhau đến vậy? Chắc chắn họ cùng có phán đoán như nhau về đàn cá đông đặc và về hố cá. Hai con tàu neo sát nhau. Trong ánh đèn bão, tôi nhìn dòng nước xanh thẫm chảy dọc thân tàu, vỗ vào mép tàu sủi bọt trắng. Tôi biết tàu đã quay mũi về phía Nam, vì hải lưu ở biển này chảy theo hướng Bắc – Nam. Những người đánh cá nhanh nhẹn hạ những chiếc thuyền nhỏ từ sàn tàu xuống biển. Nhóm đốt đèn nhảy xuống ba chiếc thuyền con. nhanh chóng làm cho ba chiếc đèn măng xông bật ánh sáng trắng mỗi đèn ba bóng bằng 2.400 oát. Ba thuyền đèn bơi đến ba vị trí góc một tam giác 41
Page 5
lớn đã được định theo kỹ thuật. Những người khác thì dỡ lưới và thả xuống biển. Công việc của họ đã được sắp đặt trước, không ai phải nhắc nhở nhau. Một số xã viên hối hả xuống các thuyền neo góc và thuyền cạnh lưới. Họ khéo léo rải cái lưới rộng một héc ta xuống gần hố cá. Đó là việc đòi hỏi phải có kỹ thuật cao và làm rất nặng nhọc. Tôi và anh Nhượng xuống một chiếc thuyền nhỏ để sang thuyền đèn chính của Tuyến. Tuyến bảo tôi: «Đèn này ở bang đầu nước!» Tôi nhìn bóng đèn mảng sông, một bầu thủy tinh tròn bằng cái lồng bàn. Tôi như bị nén xuống dưới ánh sáng trắng và chói của nó. Nhìn ra hai phía trước mặt, tôi thấy hai cột đèn phụ, cách đèn chính chừng năm trăm mét cũng sáng chói. Ánh đèn sáng khiến tôi nhìn xuống biển nước trong suốt, thấy những con cá loáng thoáng bơi qua. Anh Nhượng bảo: «Có thể nhìn sâu được từ tám đến mười mét đấy !». Tôi bám tay vào mép thuyền nhìn xuống nước. Tôi kinh ngạc: trong lòng nước sâu cuồn cuộn một khối màu lớn, như một đụn mây sẫm đen quái dị. Anh Nhượng cũng nhìn xuống và nói: - Cá đấy! Hàng triệu con đấy! - Cá gì? - Ót đấy! Hai thuyền đèn phụ từ từ dẫn đàn cá về phía đèn chính. Khi chúng đến cách đèn chính chừng năm mét thì đèn của chúng tắt. Tại đây, đàn cá chỉ còn hướng cả vào đèn chính. Và đèn chính đã nhẹ nhàng dẫn chúng bơi vào vùng đặt lưới. Vào lúc ấy, bốn cái thuyền giữ bốn góc lưới sẵn sàng đón cá. Đèn chính tiếp tục dẫn đàn cá mê ánh sáng vào giữa lòng lưới. Khi biết đàn cá đông đặc đã vào vùng đặt lưới, ông Cang ra lệnh cho bốn góc lưới kéo diềng; bốn biên lưới sẽ sàng nổi ngang mặt nước, khuyp gọn đàn cá trong lưới. Biết chắc là đèn mình đã dẫn đàn cá nằm gọn trong lưới, Tuyến mừng lắm, giọng anh run run: - Đàn cá đông lắm! Em sợ vỡ lưới! Tuyến tắt đèn. Dưới ánh sáng của sao trời, người ta xúm vào quanh lưới cá. Tôi bị cuốn hút vào không khí khẩn trương. Các nhóm người ở bốn góc lưới giữ cho diềng lưới căng, nếu để dùi thì có sẽ tràn ra ngoài. Bốn cái thuyền khác đưa xã viên vào bắt cá. Cá quần lên trong lưới, nhảy tưng trông dễ sợ, họ phải dơm miệng những cái lưới phụ vào biên lưới chính, chờ cá chui sang. Mỗi túi lưới phụ chứa được vài tạ. Khi cá sang đầy, họ thít miệng nó lại và buộc vào thuyền con, kéo về nơi chứa cá. Chia sẻ ra như thế để lưới chính khỏi bị đàn cá quá lớn phá vỡ. Khi cá trong lưới chính đã vơi, không sợ bị phá, họ mới kéo nó lên, gạt cá vào thuyền. Chỉ riêng việc bắt cá như thế, họ đã phải thức hết đêm. Mệt mỏi biết bao nhưng mà cũng say mê, hưng phấn biết bao... Tôi trở lại Thái Phượng, gặp ông Cơi, chủ nhiệm Đồng Hải. Ông đã vào tuổi năm mươi tám, người tầm thước, khỏe mạnh. Ông nói nhỏ với những cử chỉ nhẹ nhàng, thoải mái. Là cán bộ lâu năm, ông Cơi đã qua nhiều công tác. Sau cách mạng tháng Tám, ông làm bí thư thanh niên, trưởng thôn. Hợp tác xã nông nghiệp thành lập, ông làm kế toán rồi làm phó chủ nhiệm, bí thư chi bộ. Ông là một trong những người góp công sức xây dựng kho tàng, nhà cửa, công trình thủy lợi. 12
Page 6
Chuyển sang làm chủ nhiệm hợp tác xã đánh cá, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, ông vẫn vững tâm, gan góc, quyết không bỏ nghề biển. Ông đã nói một câu cứng rắn khi có một số người hoang mang toan bỏ nghề đánh cá: «Muốn nghèo khổ hơn thì hãy bỏ biển mà tụ cả về đồng ruộng!» Ông Cởi là người trầm tĩnh. Ai bàn ngang, bàn chùn, ông không chịu được nhưng không nóng nảy. Ông tìm cách thuyết phục bằng được. Ông là người có kinh nghiệm quản lý hợp tác xã. Tài sản, thuyền lưới, công cụ nhiều, nhưng ông nắm rất chắc. Mất cái gì, cái gì sắp hỏng, ông đều biết. Ông thường ra tận từng tàu để kiểm tra từng li từng tí. Đến tàu nào ông cũng nhắc nhở anh em dọn xếp từ bếp núc đến chỗ ăn nằm. Cái nếp sinh hoạt gọn đẹp kiểu quân đội của các tàu đi biển là do ông dày công hướng dẫn xã viên làm. Anh em dễ gần gũi và quý mến ông. Xã viên trẻ nào ngang tàng, chơi bời, bảo không được, ông kiên quyết đưa lên bờ. Biết tôi đã chứng kiến mẻ lưới nhiều cá, ông Cởi bảo: — Chú biết mẻ ấy bao nhiêu không? Hai mươi hai tấn đấy! Vô địch đấy! Ông cười rất sảng khoái. Biết tôi muốn hỏi nguồn gốc của việc ăn ra làm nên của Đồng Hải trong mấy năm gần đây, ông Cởi thong thả: «... Cái năm 1979, sau những tháng làm ăn thua lỗ, nợ nần, chúng tôi thấy phải tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và phải giao khoán sản phẩm. Về nghề thì phải mở thêm nghề lưới đèn. Đánh cá thủ công mà chỉ có giả đôi là chưa ổn. Nhưng lưới đèn là một nghề khó. Người ta lo nhất là không có cán bộ kỹ thuật. Tôi ở cái đất này tôi rõ: có những người giỏi. Nhưng vừa qua tập thể chưa biết dùng họ. Tôi đến thuyết phục từng người, và đã lôi kéo được họ. Lực lượng đủ, chỉ còn chờ sự hỗ trợ của Nhà nước. May thay tỉnh có chủ trương phục hồi và tăng cường nghề biển. Chúng tôi chủ động bám các cơ quan xin hỗ trợ. Thế là trong có hai tháng chúng tôi huy động cả ba nguồn vốn: Nhà nước, tập thể và xã viên, được hơn bốn triệu. Xã viên từ một trăm tăng lên một trăm năm mươi. Chúng tôi tiến hành bốn khoán. Tàu thuyền, đèn lưới và các thứ ngư cụ giao từng đội bảo quản và định rõ thời hạn sử dụng: nếu kéo dài hơn thì đội được lợi; nếu mất, đội phải đền, xã viên trong đội phải chung chịu. Đội lại giao từng thứ cho từng nhóm hoặc từng xã viên sử dụng, vượt thời hạn thì được thưởng, mất thì phải đền gấp ba giá thị trường. Xăng dầu cũng khoán với định mức hợp lý. Thời gian lao động khoán, sản phẩm khoán. Cá đánh vượt mức nghĩa vụ bán cho Nhà nước thì được bán theo giá thỏa thuận, cũng bán cho Nhà nước để lấy thưởng. Chúng tôi giáo dục xã viên thực hiện qui ước về bốn khoán, vừa dùng mối quan hệ họ hàng thân tộc để thuyết phục xã viên. Đoàn thể, tổ đảng cũng tăng cường giáo dục về tư tưởng... Ông Cởi nói khá kỹ về bốn khoán. Tôi hiểu hợp tác xã của ông đã sống lại nhờ cơ chế khoán mới, cách quản lý mới. Tôi hỏi ông về bí quyết đánh cá. Ông cho biết hợp tác xã ông đã qui tụ được những tay nghề giỏi, có người giỏi đến mức nhiều nơi muốn «mua» bằng bạc triệu. Thế mà họ gắn bó với Đồng Hải. Ông Cởi tin tưởng và giao cho họ toàn quyền chỉ đạo kỹ thuật khi ra khơi. Hợp tác xã trả thù lao huấn luyện xã viên cho họ, nên họ đã từng bước truyền nghề cho xã viên. Các lớp học trên biển được mở theo kiểu vừa làm vừa học. Ông Cởi cho tôi biết: có những tay nghề giỏi như bác Cang hiểu biển, hiểu cá, lại gan góc với sóng gió. Anh 13
Page 7
Nhiệm cũng hiểu biển như hiểu làng xóm mình. Anh có tài đoán bò cá, chỉ huy đội nào thì đội ấy được nhiều cá nhất. Cách bấm các thêm núi, đá tìm chỗ dắt lưới độc đáo thì hình như là bí mật nhà nghề của anh. Anh có nói ra cũng ít ai theo nổi. Còn loại trẻ thì các anh Vượng, Tế, Năm,.. cũng vững tay nghề. Tôi được biết: từ năm 1980 đến nay, tổng sản lượng cá của Đồng Hải tăng đều. Từ gần 300 tấn tiến lên 560 tấn; bán cá theo nghĩa vụ cho Nhà nước từ chỗ hụt tiến lên vượt mức. Năm 1983 vừa qua, mức giao 212 tấn đã bán 224 tấn. Sau khi bán nghĩa vụ, còn bán theo giá thỏa thuận. Đồng Hải không bán cá ra ngoài. Đây là ưu điểm mà sở Thủy sản Thái Bình rất hoan nghênh. Đồng Hải đã được huyện và được tỉnh trao cờ dẫn đầu ngành đánh cá biển, được Hội đồng Nhà nước tặng bằng khen và được đề nghị thưởng Huân chương Lao động. Tôi quay lại gặp anh Nhượng để cảm ơn và chia tay. Tôi bảo: – Muốn ngồi lâu với anh quá, nhưng sao mấy hôm nay anh bận liên miên vậy? – Có chuyện đấy. Chúng tôi sẽ thành lập thêm một hợp tác xã đánh cá nữa. Ông Cới đã đi Hà Tĩnh đóng thêm bốn tàu 33 mã lực. Thuyền, lưới... đều vốn tự có, không phải vay Ngân hàng. – Thế còn người? – Đủ! 150 xã viên « dự nhiệm » đã được học nghề. Còn cán bộ thì hơi thiếu. Nhưng rồi cũng tìm ra. Tôi hiểu thế là Thái Thượng đã vững tin ở nghề biển. Họ tiếp tục tiến công ra biển. Tiễn tôi một quãng đường, anh Nhượng bảo: « Viết khỏe vào nhé. Phải cổ vũ những người đi biển ! » Ra đến bờ đê, chúng tôi gặp một chàng trai cao lớn lửng lững, vác trên vai cái cuốc. Tôi đã gặp chàng trai này trên biển, anh kéo lưới rất khỏe. Hôm nay về làng, anh giúp vợ làm ruộng khoán. Anh Nhượng hỏi chàng trai: – Sao cấy xong chưa ? Thuyền lưới thế nào ? – Dạ cấy xong rồi anh ạ! Đêm nay, một giờ, vang tôi đi ! Tôi xen vào nói vui với chàng trai: – Anh vác cái cuốc bé quá! Anh ta cười, ánh mắt sáng lên: – Em tranh thủ giúp vợ tí. Bọn em sống với biển chả mấy khi ở nhà. Nhưng cũng phải động viên mẹ nó tí chứ anh! Tôi nhìn theo chàng trai. Ngày mai anh lại là một lực sĩ trên biển. Ngực anh lại căng nở trước nắng gió của biển. Đêm nay, trước khi bước vào chuyến đi biển một tháng, anh lại bàn với vợ về công việc ở nhà, ở đồng ruộng để có một vụ mùa tươi tốt. Chắc là anh sẽ không nói gì với vợ về chuyện biển cả đầy sóng gió, vì đấy là chuyện của anh, anh đã làm chủ, có gì đâu mà phải nói! Người Thái Thượng đã đi từ ruộng lúa ra biển. Họ đang ở thế chiến thắng biển cả. Họ đã không chịu sống nghèo khổ trước biển cả giàu có. Họ đã thắp sáng ngọn đèn của mình ở biển Đông. Họ đang làm giàu cho quê hương, cho đất nước, cho bản thân mình. Trại sáng tác Diêm Điền N.D.C.